thảo dược trị gan nhiễm mỡ thảo dược doctor ninh thao duoc doctor le thảo dược thoái cốt hoàn
Được tạo bởi Blogger.

CHỮA TRỊ VIÊM GAN B

Chữa trị viêm gan cấp tính gây do siêu vi trùng viêm gan B: nghỉ ngơi, ăn uống những thức ăn nhiều năng lượng cho lại sức, tránh dùng những thuốc có thể làm hại gan.

Thỉnh thoảng có trường hợp nặng cần được chữa trị và theo dõi trong bệnh viện. Có người cần đến thay gan vì suy gan cấp tính.

Bệnh gây do siêu vi trùng (virus), nên dùng trụ sinh không ăn thua gì.

Sự chữa trị viêm gan B kinh niên tùy thuộc nhiều yếu tố: thể bệnh nhẹ hay nặng, tuổi tác, số lượng siêu vi trong máu, siêu vi yên ngủ hay đang sinh sôi nảy nở, …

Các trường hợp bệnh kinh niên song chưa cần chữa trị nên được theo dõi định kỳ với thử máu, siêu âm gan. Trong vài năm qua, những kiến thức mới về căn bệnh khiến các bác sĩ cảnh giác hơn, theo dõi viêm gan B kinh niên sát hơn trước, và nhiều trường hợp, chữa sớm hơn trước. Thuốc chữa bệnh nay nhiều hơn, khiến việc chữa trị cũng dễ dàng hơn trước.

Mang bệnh viêm gan B kinh niên, chúng ta nên chích ngừa viêm gan A (lỡ bị thêm viêm gan A, gan dễ suy). Rượu làm hại gan, tuyệt đối không nên uống rượu, dù chỉ chút chút. Vấn đề ăn uống, chúng ta không cần theo một thực phẩm đặc biệt nào. Về thuốc men, đa số thuốc không ảnh hưởng đến gan, song riêng với thuốc Tylenol, chúng ta nên thận trọng, không nên dùng quá 2000 mg mỗi ngày (mỗi lần uống chỉ nên dùng lượng 650 mg).


PHÒNG NGỪA VIÊM GAN A

CHÍCH NGỪA VIÊM GAN A

Chích ngừa (vaccination) là cách thức bảo vệ cơ thể chúng ta không bị lây bệnh truyền nhiễm. Hiện nay trên nước Mỹ, với những cuộc vận động chích ngừa viêm gan A qui mô hơn, người ta hy vọng sẽ đạt được 3 mục tiêu sau đây: a) bảo vệ người được chích không bị lây bệnh, b) giảm thiểu sự bành trướng của bệnh bằng cách ngăn cản sự truyền bệnh (transmission), và c) diệt trừ hoàn toàn căn bệnh (complete elimination).

AI CẦN CHÍCH NGỪA VIÊM GAN A?

Trong nhiều năm vừa qua, bệnh viêm gan A giảm dần trên nước Mỹ. Phần lớn là nhờ vào cải tiến hệ thống cầu cống, thủy nông cũng như nâng cao mức sống trên mọi phương diện. Nhà cửa rộng rãi và vệ sinh hơn, thành phố đỡ chen chúc hơn, sông hồ đỡ ô uế hơn, thực phẩm được kiểm soát kỹ lưỡng hơn, v.v. Tuy thế, viêm gan A vẫn tiếp tục là một trong những mối ưu tư của bộ y tế Hoa Kỳ. Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật (Centers for Disease Control and Prevention viết tắt là CDC) khuyên rằng những người sau đây nên chích ngừa viêm gan A:

1) Tất cả các trẻ em lớn lên từ các tiểu bang có tỷ lệ bệnh viêm gan A cao hơn bình thường như Arizona, Alaska, Oregon, New Mexico, Missouri, Texas, Utah, Washington, Arkansas.

2) Các trẻ em lớn lên trong những cộng đồng hoặc địa phương với tỷ lệ viêm gan A cao hơn bình thường. Ðiều này có nghĩa là các con em chúng ta đang sống trong cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, cần được chích ngừa bệnh viêm gan A. Thông thường nên chích cho các em từ 2 tuổi trở lên.

3) Tất cả những du khách hoặc nhân viên làm việc thường trú tại những nước có tỷ lệ viêm gan cao hoặc tương đối cao. Nếu dựa theo bản đồ thế giới hình số 2-2, trang số 4, trong đó có tất cả các nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La-tin, phía đông Châu Âu v.v. Khi chích thuốc, cần phải chích ít nhất 4 tuần lễ trước khi đi du lịch.

4) Người Việt Nam trưởng thành tại quê nhà, có lẽ đã bị lây bệnh trong quá khứ, nên đã được miễn nhiễm. Nhưng nếu trong máu chưa có chất kháng thể HAV-IgG, họ nên chích ngừa để tránh bị lây bệnh. Những trẻ em trưởng thành tại Hoa Kỳ, không cần thử kháng thể HAV-IgG trước khi đi chích ngừa.
PHƯƠNG PHÁP CHÍCH NGỪA:
Có hai phương thức chích ngừa:


1) Chích ngừa chủ động (active vaccination): chích thuốc để huấn luyện cơ thể chúng ta cách thức tự chế tạo ra kháng thể (Immune Globulin, viết tắc là IG).

2) Chích ngừa thụ động (passive vaccination): hóa giải vi khuẩn bằng kháng thể (IG) của người khác. Ðây là phương pháp chích ngừa tạm thời mà thôi.

CHÍCH NGỪA CHỦ ÐỘNG

Hiện nay có 2 loại thuốc chích ngừa viêm gan A: thuốc HAVRIX của hãng SmithKline và VAQTA do hãng Merck bào chế. Tuy cách thức chế tạo không hoàn toàn giống nhau, 2 loại thuốc này đều rất công hiệu. Thuốc được dùng cho bệnh nhân từ 2 tuổi trở lên. Thông thường chỉ cần chích 2 lần, mỗi lần cách nhau từ 6 đến 12 tháng. Khoảng 94% đến 100% bệnh nhân sẽ được miễn nhiễm một tháng sau mũi chích đầu tiên. Nếu được chích thêm mũi thứ 2, kết quả sẽ tốt đẹp hơn và sự miễn nhiễm sẽ kéo dài lâu hơn. Có lẽ ít nhất là 7 đến 8 năm trở lên, nếu không muốn nói là suốt đời. Sau khi được chích ngừa, bệnh nhân không cần phải thử máu để xem có kháng thể hay chưa

NHỮNG CÁCH THỨC PHÒNG NGỪA BỆNH VIÊM GAN A

Nếu chưa được chích ngừa, hoặc nếu quý vị chưa có kháng thể chống vi khuẩn viêm gan A, quý vị nên để ý những điều sau đây:

1) Rửa tay bằng xà-bông trước và sau mỗi lần dùng nhà cầu hoặc thay tã cho con em.
2) Rửa tay cẩn thận trước khi và sau khi ăn cũng như làm bếp.
3) Các bát đĩa của bệnh nhân phải được rửa sạch sẽ.
4) Tránh quan hệ tình dục với người bệnh viêm gan A (trong thời gian ủ bệnh).

Tóm lại, viêm gan A là một bệnh rất dễ lây, nhưng không gây ra viêm gan kinh niên. Bệnh tuy "hiền" hơn viêm gan B, C và D, bệnh cũng có thể trở thành ác tính. Nếu không nguy hiểm, bệnh cũng có thể làm những ngày tháng du lịch của chúng ta trở nên kém vui. Tất cả chúng ta nếu chưa được miễn nhiễm, nên chích ngừa càng sớm càng tốt. Khi được miễn nhiễm, đề kháng HAV-IgG sẽ dương tính. Một số bệnh nhân vẫn hiểu lầm là họ đang bị bệnh viêm gan A khi thấy trong máu của mình có chất đề kháng này.



RƯỢU BIA CŨNG LÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN BỆNH XƠ GAN

Uống rượu kéo dài trong nhiều năm có thể đưa đến những tổn thương vĩnh viễn của cấu trúc gan. Chết tế bào gan thường đi kèm với sự hình thành một lượng lớn mô liên kết không thể kiểm soát được.

Chỉ cần mỗi ngày uống 30gr Ethanol thì nguy cơ xơ gan đã tăng cao. Những giai đoạn sớm của quá trình tạo xơ trong gan có thể hồi phục đuợc nhưng khi bệnh đã bước sang giai đoạn xơ gan thực thụ thì các tổn thương không thể nào hồi phục được nữa. Các giai đoạn cuối của xơ gan, chức năng gan bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tăng áp tĩnh mạch của, tức là tình trạng tăng áp lực trong hệ thống tĩnh mạch của cửa của gan, tạo điều kiện cho sự hình thành báng trong ổ bụng cũng như sự hình thành trướng tĩnh mạch thực quản, một cấu trúc nếu bị vỡ sẽ gây xuất huyết ồ ạt đe dọa tính mạng bệnh nhân. Ngoài ra, suy giảm chức năng gan nặng nề trong giai đoạn cuối cũng có thể đưa đến bệnh lý não gan, thường được đặc trưng bằng hôn mê.

Chẩn đoán xơ gan có thể dựa vào siêu âm. Dấu hiệu trên siêu âm gan là nhu mô gan không đồng nhất và bờ gan mất đồng đều. Trong giai đoạn sớm, các xét nghiệm chức năng gan còn bình thường dó đó chúng không phải là những biện pháp để phát hiện sớm xơ gan.

Nội soi ổ bụng để khảo sát trực tiếp bề mặt gan cũng như thực hiện sinh thiết gan là một phuơng pháp chẩn đoán hiện đại có thể xác định chắc chắn bằng phương pháp mô học để chẩn đoán xơ gan. Tổn thương đặc trưng của xơ gan do rượu là xơ gan nốt nhỏ, trong khi xơ gan do những nguyên nhân khác thường biểu hiện bằng xơ gan nốt lớn.

Thuốc tây hiện nay chỉ có thể điệu trị những triệu chứng của biểu hiện của xơ gan mà thôi.

Carcinoma gan là biến chứng muộn của xơ gan do rượu. Nếu lượng rượu tiêu thụ hằng ngày trên 80 gr trong 10 năm thì nguy cơ ung thư gan tăng lên 10 lần.

THUỐC CHỮA TRỊ VIÊM GAN B HIỆU QUẢ

Viêm gan virus B mạn tính là 1 loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với sức khỏ nhân loại .Việt nam nằm trong khu vực có tỷ lệ phát bệnh rất cao ,bệnh có thể dãn đến xơ gan ,ung thư gan đe dọa lớn tới sức khỏe nhân dân.Việc nghiên cứu để tìm ra những phương pháp và các Dược vật để điều trị viêm gan vi rus B đạt hiệu quả cao đang được nhiều người quan tâm .

Trong những năm gần đây y học cổ truyền phương đông đã có 1 bước phát triển trong việc nghiên cứu điều trị viêm gan virus B mãn tính .Trên cơ sở lý luận của y học cổ truyền phương đông ,dựa trên kinh nghiệm điều trị viêm gan virus B mãn tính trên lâm sàng và tư tưởng học thuật của giáo sư Kim Thực trường đại học y dược Nam Kinh Trung Quốc .Dựa trên những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu lâm sàng tại bệnh viện " lâm sàng Trung y số 1 Trường đại học Trung y dược Nam Kinh" chúng tôi với đề án "Nghiên Cứu Và Bảo Tồn Bài Thuốc Dân Tộc Trong Điều Trị Các Bệnh Về Gan" đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị viêm gan virus B mãn tính của bài thuốc Long Sài thang trên lâm sàng với mục đích :
                                                      
- Đánh giá hiệu quả điều trị viêm gan virus B mãn tính của bài thuốc Long Sài Thang trên lâm sàng

- theo dõi tác dụng phụ và tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị bằng bài thuốc Long sài thang

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VIÊM GAN VIRUS B  :

- Nghiên cứu được tiến hành trên 60 bệnh nhân ,không mắc các bệnh viêm gan khác ,không nghiện rượu ,Không mắc các bệnh nặng như ung thư ,tim , não , huyết quản hoặc phụ nữ có thai ,tuổi từ 16 đến 60 được chuẩn đoán nhiễm virus viêm gan B mạn tính ,phù hợp với các tiêu chuẩn của hội nghị chuyên đề về bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng .

+ Bệnh nhân ngẫu nhiên chia thành 2 nhóm : sự khác biệt giữa 2 nhóm chia thao độ tuổi ,giới ,mức độ nặng của bệnh là không có ý nghĩa thống kê .

Thành phần những bài thuốc :

· Long quỳ thảo : 12g

· Sài hồ bắc : 08g

· Hoàng cầm :10g

· Bán hạ chế : 10g

· Kê cốt thảo : 20g

· Uất kim : 10g

· Hạ khô thảo : 15g

· Bạch H.Xà T.thảo : 30g

· Thùy bồn thảo : 30g

· Nữ Trinh tử :15g

· Bạch truật : 10g

· Cam thảo :05g

- Mỗi ngày sắc 01 thang ,ngày uống 2 lần :

- Nhóm đối chứng được uống thuốc ích can ninh ,mỗi viên có hàm lượng Silibinin : 38,5mg .mỗi lần uống 2 viên ,ngày uống 3 lần

* LIỆU TRÌNH ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM GAN VIRUS B :

- Cả 2 nhóm 3 tháng kết quả được đánh giá sau 2 tuần ,1 tháng ,3 tháng ,và 6 tháng , điều trị theo các tiêu chẩn của hội nghị về Bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng tháng 9 năm 2000 như sau :

- Đánh giá theo sự chuyển biến lâm sàng : mệt mỏi, ăn kém , đau tức hạ sườn ,đau bụng , bụng chướng , buồn nôn ,sợ mỡ, vàng da ,nước tiểu vàng , tùy mức độ tính điểm ,làm cơ sở để phân tích ,tính hiệu quả của điều trị

* CĂN CỨ VÀO CÁC XÉT NGHIỆM CỦA CHỨC NĂNG GAN :

Căn cứ vào các xét nghiệm như : HBsAg , HbeAg, HbcAg , HBV – DNA và SIL -2R ..

- Theo dõi các tác dụng phụ ,tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị

- Hiệu quả điều trị được đánh giá theo tiêu chuẩn được đánh giá hiệu quả điều trị bệnh của các thuốc thảo dược như sau :

+ Cơ bản điều trị khỏi : Bệnh nhân tự thấy hết các triệu chứng bệnh , tình hình sức khỏe được cải thiện , gan ,lách không to ra hoặc teo nhỏ , ấn gõ không đau , xét nghiệm chức năng gan trở về bình thường ,các chỉ tiêu xét nghiệm được cải thiện rõ.

+ Có tác dụng hiệu quả :

Hết các triệu chứng bệnh hoặc triệu chứng bệnh thuyên giảm rõ , sức khỏe cải thiện rõ , xét nghiệm chức năng gan trở về bình thường hoặc giảm trên 70%

+ tác dụng phụ : không có

KẾT QUẢ CỦA CUỘC NGHIÊN CỨU :

Đánh giá chung kết quả :

- Hiệu quả điều trị chung :

- Sau 1 liệu trình 3 tháng : điều trị các triệu chứng cơ bản như : mệt mỏi , ăn kém đau tức hạ sườn , bụng chướng, tiểu tiện vàng của nhóm nghiên cứu được cải thiện rất rõ dệt :so với trước khi được điều trị , và so với nhóm đối chứng ( P <0,05 ; P<0,01 )

- Sau 2 liệu trình ( 6 tháng ) điều trị : các triệu chứng mệt mỏi ăn kém đau tức hạ sườn ,bụng chướng , sợ mỡ, tiểu tiện vàng , của nhóm bệnh nhân được cải thiện rất rõ rệt so với trước khi điều trị so với nhóm đối chứng ( P<0,01)

TỔNG HIỆU QUẢ SAU 2 LIỆU TRÌNH :

Nhóm nghiên cứu cơ bản khỏi 48 ca

Nhóm đối chứng : cơ bản điều trị khỏi 5 ca

Tác dụng phụ và tác dụng không mong muốn :

Trong quá trình điều trị cả 2 nhóm không tháy tác dụng phụ hoặc tác dụng không mong muốn

KẾT LUẬN :

Viêm gan virusB thuộc các triệu chứng hoàng đản, Hiếp thống, can ôn…của y học cổ truyền .Nguyên nhân cơ chế phát sinh bệnh thường do : ẩm thực thất điều ,lao quyện nội thương , tình trí rối loạn lại cảm thụ ngoại tà, dịch độc mà phát sinh bệnh, các nhân tố như : Tà độc .Thấp tà cảm nhiễm từ bên ngoài ,hỏa nhiệt khí uất, và huyết ứ bên trong cơ thể khiến cho chính khí bất túc là những nguyên nhân chính phát bệnh .Mức độ độc của dịch khí giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình gây bệnh .Diễn biến bệnh cũng phụ thuộc vào công năng của các tạng phủ như can , tỳ thận.

- Bài thuốc Long sài dựa trên các pháp : thanh , sơn ,hóa , vận , bổ làm nguyên tắc hợp thành bài thuốc,thanh tức là thanh nhiệt giải độc thanh can tả hỏa thanh nhiệt táo thấp , thanh nhiệt lương huyết, sơ tức sơ can giải uất, hóa tức hóa thấp, hóa ứ, vận ức kiện tỳ trợ vận,bổ tỳ lấy bổ khí huyết của tỳ vị , bổ âm tinh ích can thận là chủ yếu,

Các kết quả lâm sàng của bài thuốc thu được cũng đã chứng tỏ bài thuốc đã phát huy tốt tác dụng trên các phương diện như : Kháng virus ,điều tiết miễn dịch, bảo hộ tế bào gan, cải thiện chức năng gan ..




THẾ NÀO LÀ BỆNH VIÊM GAN C ?

Viêm gan (hepatitis) là danh từ chỉ tình trạng gan bị thương tổn. Viêm gan gây do nhiều nguyên nhân: viêm gan do rượu, do thuốc dùng, do siêu vi, … Các bệnh viêm gan do siêu vi hay xảy ra là bệnh viêm gan A, bệnh viêm gan B và bệnh viêm gan C. Chúng ta đã có dịp tìm hiểu hai bệnh viêm gan A và B. Bài này, chúng ta tìm hiểu bệnh viêm gan C.

May mắn, bệnh viêm gan gây do siêu vi viêm gan C ở Mỹ đang có khuynh hướng ngày càng ít hơn. Theo số liệu thống kê của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh (Centers for Disease Control anh Prevention, viết tắt CDC), vào thập niên 1980, mỗi năm ở Mỹ có thêm 230000 trường hợp viêm gan C, bây giờ chỉ còn khoảng 19000 trường hợp mới mỗi năm. Việc này có thể do những người chích choác xì ke ma túy nay cẩn thận hơn, ít dùng kim chung trong việc chích choác vì họ sợ bệnh AIDS (cũng truyền qua đường chích choác).

Ở Mỹ, hiện có khoảng 2.7 triệu trường hợp bệnh viêm gan C, và hàng năm, khoảng 8000-13000 ngàn người chết vì căn bệnh.

Ta đặt tên Việt “Chích choác” cho con siêu vi viêm gan C cho dễ nhớ. Siêu vi C ở trong máu, phần lớn lây từ người nọ sang người kia qua đường dùng kim chung để chích choác ma túy.

C cũng lây truyền qua đường truyền máu, nhưng ở Mỹ, vào đầu thập niên 1990, người ta đã tìm ra cách truy tìm siêu vi C trong máu, nên từ đó đến nay, nguy cơ bị nhiễm siêu vi C trong lúc truyền máu rất ít, chỉ khoảng 1 trong 1.9 triệu trường hợp truyền máu (trong 1 triệu 9 người được truyền máu, chỉ có 1 người không may bị).

Siêu vi C còn truyền qua đường giao hợp, nhưng ít, chỉ 1 trong 1000 trường hợp hàng năm. Thế nên, sống đời lành mạnh, một vợ một chồng, người kia bị, chúng ta cũng không nên sợ cho lắm.

Không có bằng chứng cho thấy hôn, ôm nhau, hắt xì, ho, bắt tay, ăn uống chung, dùng chung vật dụng, ly tách có thể lây bệnh. Tuy nhiên, ở cùng một nhà với người nhiễm siêu vi C, chúng ta không nên dùng chung bàn chải đánh răng, dao cạo, đồ cắt móng tay, hoặc các vật dụng khác có thể dính máu, lỡ rủi siêu vi C nó bò sang.

Mẹ có thể lây truyền bệnh cho thai nhi trong lúc mang bầu. Hiểm nguy tùy vào số lượng siêu vi C có trong máu người mẹ, trung bình khoảng 5-6% (1 trong 20 trường hợp).

Một số những người mang con C trong cơ thể, người ta không tìm thấy rõ đường lây truyền, không rõ tại sao họ lại bị con C đến viếng.

Triệu chứng Viêm gan C

Viêm gan cấp tính (acute hepatitis) do siêu vi C thường lành, không gây chết người, và đa số người bệnh không có triệu chứng, cũng chẳng vàng da, vì C cứ lặng lẽ tấn công lá gan người bệnh. Có khi tình cờ thử máu thấy các chất aminotransferases (do tế bào gan tiết ra, tăng lên khi gan viêm) tăng cao, đồng thời trong cơ thể người bệnh có kháng thể (antibody) chống siêu vi C, chứng tỏ họ đang có con C trong người.

Điều ghê gớm là đến 70-80% số người bệnh không khỏi bệnh hẳn sau cơn viêm gan cấp tính do con C gây ra: 6 tháng sau thử máu lại, các chất aminotransferases vẫn còn cao, và đâm kim vào gan lấy một chút mô gan ra thử, thấy có những thay đổi chứng tỏ người bệnh đang ít nhiều viêm gan kinh niên (chronic hepatitis). Lá gan của một số những người này (20%) sẽ tiếp tục hư hoại, và trong vòng 20 năm, mô gan họ sẽ xơ hóa, thành thẹo (cirrhosis), rồi sau họ có thể bị ung thư gan.

Trong những người viêm gan kinh niên do con C, ai may mắn vẫn sống trăm tuổi, ai sẽ yểu mệnh vì xơ gan hay ung thư gan, vẫn còn là bí mật của Trời, các nhà nghiên cứu chưa hiểu rõ. Nói chung, người uống rượu và người có gan tổn thương nhiều vì siêu vi có dự hậu xấu hơn, gan dễ xơ hóa hơn. Bị viêm gan C, chúng ta tuyệt đối không nên uống rượu.

Chữa trị Viêm gan C

Nhiều trường hợp viêm gan C kinh niên nhẹ không cần chữa, chỉ để đấy theo dõi đều bằng thử máu và siêu âm gan. Sự chữa trị gây nhiều phản ứng phụ, tốn kém và phiền toái.

Những trường hợp cần chữa, hiện nay, cách chính để chữa là dùng phối hợp hai thuốc, thuốc chích pegylated interferon (Intron A) và thuốc uống ribavirin (Rebetol). Tùy trường hợp, sự chữa trị kéo dài từ 24 đến 48 tuần. 25-30% trường hợp bệnh sẽ tái phát sau khi ngưng thuốc.

Người bệnh viêm gan C không nên dùng Tylenol quá 2000 mg mỗi ngày, còn ngoài ra các thuốc thông thường khác không có ảnh hưởng tai hại trên gan. Chúng ta không nên tin vào các “dược thảo” quảng cáo tầm bậy tầm bạ chữa được viêm gan C, chỉ tốn tiền vô ích.

Về việc ăn uống hàng ngày, không cần kiêng cữ gì đặc biệt.

Truy tìm viêm gan C

Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh đề nghị thử máu truy tìm siêu vi viêm gan C ở những người có thể dễ nhiễm con siêu vi này:

- Người từng chích xì ke ma túy

- Vợ hay chồng của người bệnh viêm gan C

- Người từng được cho truyền các chất giúp đông máu (clotting factors) chế tạo trước năm 1987

- Người được truyền máu hoặc được ghép các cơ quan (như ghép thận) trước tháng 7 năm 1992

- Người từng được lọc thận

- Người thử máu thấy có bệnh gan chưa rõ nguyên nhân vì sao

- Nhân viên y tế nào rủi ro bị đâm bởi kim có dính máu chứa siêu vi C

- Trẻ em sanh bởi mẹ mang bệnh viêm gan C.

Theo họ, những thành phần sau không cần phải thử máu truy tìm siêu vi C:

- Các nhân viên y tế

- Các phụ nữ mang thai

- Người sống chung trong nhà, không phải chồng hay vợ, với người bệnh viêm gan C

- Người bình thường chúng ta.

Như vậy, người bình thường chúng ta, không có những yếu tố khiến chúng ta dễ nhiễm siêu vi viêm gan C, không cần phải thử máu để truy tìm con siêu vi này làm gì, vừa tốn tiền, có khi thêm lo lắng, buồn rầu, cả gia đình bấn lên vì sợ, do thử máu cho kết quả dương tính giả (không có mà nó nói láo là có, khi thử lại thấy không có thực).

Phòng ngừa Viêm gan C

Bện viêm gan A lẫn viêm gan B từ lâu đã có thuốc ngừa, song bệnh viêm gan C hiện chưa có thuốc ngừa. Chúng ta hãy cơm nhà quà vợ, chả bao giờ nên chích choác xì-ke ma túy đã đành, lại cứ ao ta ta tắm, chẳng nên tìm những thú vui gái trai ngoài gia đình. Trong nhà mọi thứ như dao cạo râu, cắt móng tay, bàn chải đánh răng, của ai nấy dùng, không nên xài chung đụng; chúng ta cẩn thận vẫn hơn.

Cũng nên tránh xâm mình, đâm kim xỏ lỗ trên người, lỡ họ dùng kim bẩn dính siêu vi C thì khổ.

Viêm gan C thường là bệnh kinh niên, ở Mỹ, phần lớn truyền qua đường dùng kim chung chích choác ma túy, có thể đưa đến xơ gan, ung thư gan, phải theo dõi suốt đời, và nhiều trường hợp cần chữa trị. May mắn, trên đất nước tự do thân yêu này, bệnh đang ít dần. Chúng ta cùng hy vọng thuốc chủng sẽ sớm ra đời.


PHÒNG NGỪA BỆNH VIÊM GAN B

Trong cuộc chiến chống bệnh viêm gan B, chích ngừa là tốt nhất. Hội Y-khoa Hoa-kỳ (American Medical Association) đề nghị nên chích ngừa cho những thành phần sau:

- Tất cả các trẻ em dưới 1 tuổi. Trẻ em sanh bởi các bà mẹ có siêu vi B trong người cần chích ngừa ngay trong vòng 12 tiếng khi mới chào đời.

- Tất cả các thanh thiếu niên (adolescents).

- Những người vì bệnh, cần được truyền máu hay những chất lấy từ máu.

- Những người bệnh đang cần lọc thận (hemodialysis).

- Những người dễ nhiễm bệnh do lý do nghề nghiệp: bác sĩ giải phẫu, nha sĩ, chuyên viên rút máu, y tá, ... Những vị làm nghề cảnh sát, chữa lửa, ..., có thể rủi ro tiếp xúc với máu, chất tiết cơ thể (trong các tai nạn, ...) cũng nên chích ngừa.

- Đàn ông đồng tính, hoặc lưỡng tính luyến ái (homosexual and bisexual men).

- Người luyến ái khác phái (heterosexual), trước đã từng bị bệnh truyền qua đường giao hợp (sexually transmitted diseases).

- Những người nghiện thuốc qua đường chích choác (injecting drug users).

- Những vị ở cùng nhà hay “ngủ” cùng giường với người có siêu vi B. (Các vị này cũng không nên dùng chung những đồ dùng có thể dính máu: dũa đánh răng, dao cạo râu, cắt móng tay, ...).

- Những người chung đụng trong tù.

- Dân cư những vùng thường có dịch viêm gan B (Alaska, Thái bình dương, Phi châu, Á châu).

- Người định du lịch đến vùng thường có dịch viêm gan B và ở trên 6 tháng.

- Bệnh nhân và nhân viên làm việc tại các viện chăm nuôi người tàn tật.

-Viêm gan B rất nhiều trong cộng đồng người Việt chúng ta, và nhiều người không biết mình mang bệnh vì không có triệu chứng. Bệnh có thể đưa đến suy gan, chai gan, ung thư gan. Những thuốc mới, kiến thức mới về căn bệnh giúp sự chữa trị nay giản dị hơn trước. Mọi người chúng ta nên truy tìm viêm gan B, rủi bị còn theo dõi và chữa trị sớm khi đến lúc cần chữa, may không bị nên chích ngừa nếu chưa đủ kháng thể trong người để phòng bệnh.



NHỮNG NGUY HIỂM CỦA BỆNH XƠ GAN


Xơ gan là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ung thư gan. Xơ gan thường do các loại virus viêm gan B có sẵn trong cơ thể con người phát triển thành. Xơ gan cũng dễ hình thành ở những người thường xuyên uống rượu. Xơ gan dễ hình thành nhưng lại khó chữa do đó nó rất nguy hiểm.

Gan người bình thường có màu đỏ nâu, mặt nhẵn, mềm. Khi xơ gan, gan có thể to hoặc teo nhỏ, mật độ cứng chắc, màu sắc thay đổi đỏ nhạt hoặc vàng nhạt, mặt gan mất tính nhẵn bóng, lần sần hoặc mấp mô. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra: do viêm gan các loại; do tình trạng ứ mật kéo dài nguyên phát; do rượu; ký sinh trùng; nhiễm độc hóa chất và thuốc; rối loạn di truyền…

Biểu hiện bệnh lý xơ gan rất đa dạng, phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của bệnh: có thể chỉ đau nhẹ hạ sườn phải, trướng hơi nhẹ, đi đại tiện phân thất thường. Bệnh nhân mệt mỏi, ăn không tiêu, đầy bụng, trướng hơi, có thể thấy vàng mắt, vàng da hoặc da sạm, phù chân hoặc bụng to dần lên do bụng chứa nước.

Xơ gan có nhiều biến chứng như nôn ra máu và đi ngoài phân đen, hôn mê gan, ung thư gan và bệnh nhân thường tử vong vì các biến chứng này. Trong giai đoạn tiến triển, người bệnh cần nghỉ ngơi, ăn nhiều đạm, đường, hoa quả có nhiều vitamin. Khi có cổ trướng cần ăn nhạt. Nếu tinh thần lơ mơ nên ăn giảm đạm. Kiêng rượu, bia.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH MEN GAN CAO

Có rất nhiều nguyên nhân làm cho men gan tăng. Sự gia tăng men gan có nghĩa là ở một chừng mực nào đó tế bào gan đã bị ảnh hưởng. Có thể là tế bào gan ảnh hưởng nhẹ (men gan tăng có tính chất nhất thời) nhưng cũng có thể men gan tăng có tính chất trường diễn hoặc tăng một cách đột biến chứng tỏ ở trong giai đoạn đó tế bào gan đang bị tổn thương.

Do viêm gan : Trong số các nguyên nhân gây tăng men gan thì viêm gan do virut là đáng sợ hơn cả. Viêm gan do virut có thể do virut viêm gan A, B, C, E, D. Viêm gan cấp do virut hoặc bất kỳ nguyên nhân nào cũng làm cho men gan tăng cao đột biến. Nếu tăng từ 1 – 2 lần là ở mức độ nhẹ, từ trên 2 – 5 lần là tăng ở mức độ trung bình và tăng trên 5 lần là tăng ở mức độ nặng (bình thường AST ≤ 37U/l và ALT ≤ 40U/l và GGT: nam 15 – 50 ≤ U/l và nữ: 7 – 32 ≤ U/l).

Tổn thương do virut là loại tổn thương rất nguy hiểm vì virut khi xâm nhập vào tế bào gan chúng nhân lên và làm hủy hoại tế bào gan (làm tan vỡ các tế bào gan mà chúng xâm nhập). Tế bào gan càng bị hủy hoại càng nhiều thì lượng men gan giải phóng ra càng nhiều. Cho nên trong các trường hợp viêm gan cấp tính hoặc viêm gan tối cấp hoặc ung thư gan thì lượng men gan tăng nhanh một cách đột biến có khi lên tới 5.000U/l.

Do uống rượu, bia : Một nguyên nhân thường gặp là men gan tăng do tác dụng của rượu, bia, đặc biệt là rượu, trong đó nguy hiểm nhất là rượu tự pha, tự nấu do chất độc hại cho gan nhiều sẽ làm tế bào gan bị tổn thương nặng hoặc bị hủy hoại tế bào gan cho nên men gan cũng tăng lên một cách đáng kể. Lượng men gan tăng trong máu người uống rượu tùy thuộc liều lượng rượu vào máu và chất lượng rượu. Lượng men gan trong máu do gan bị tổn thương bởi rượu thì loại AST thường tăng cao từ 2 – 10 lần trong khi đó lượng ALT tăng ít.

Do bệnh sốt rét : Men gan cũng có thể tăng cao trong bệnh sốt rét do ký sinh trùng sốt rét, đặc biệt là sốt rét ác tính vì tế bào gan, thận bị tổn thương hoặc các bệnh tắc đường mật do giun, viêm dạ dày cấp, sởi, viêm tụy cấp hoặc mạn tính.

Do bệnh về đường mật : Men gan cũng có thể tăng trong các bệnh về đường mật (viêm đường mật, viêm túi mật, sỏi đường mật trong gan, teo đường mật bẩm sinh) hoặc áp-xe gan.

Do các bệnh lý khác : Người ta cũng thấy men gan có thể tăng trong các bệnh do ứ sắt, viêm gan tự miễn, bệnh lý tự miễn ở ruột non. Với một số thuốc dùng để điều trị một bệnh nào đó nhưng cũng có thể gây tác dụng phụ làm ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa của tế bào gan hoặc gây ngộ độc tế bào gan làm xuất hiện viêm gan cấp tính do thuốc, ví dụ ngộ độc thuốc điều trị lao.

Trong trường hợp này men gan có thể tăng lên đến 3.000U/l. Hoặc một số người bệnh bị tăng mỡ máu (cholesterol, triglycerid) dùng thuốc giảm mỡ máu cũng có thể làm tăng men gan nhưng khi ngừng uống thuốc thì men gan trở về chỉ số bình thường. Tuy vậy có một số trường hợp tuy gan bị tổn thương nhưng men gan không tăng, ví dụ như viêm gan trên bệnh nhân có hội chứng urê huyết hoặc ở người chạy thận nhân tạo định kỳ.

Thế nào là men gan bình thường?

Men gan bình thường là men gan khi các chỉ số xét nghiệm đạt:

AST: 20 – 40 UI/L ALT: 20 – 40 UI/L GGT: 20 – 40UI/L Phosphatase kiềm: 30 – 110 UI/L.

Tại sao men gan tăng trong viêm gan ?

Bình thường khi tế bào gan chết đi do quá trình lão hóa, một lượng men gan sẽ phóng thích vào máu ở nồng độ dưới 40 U/L. Khi tình trạng viêm gan xảy ra dẫn đến sự phá hủy tế bào gan nhiều hơn bình thường làm cho nồng độ men gan trong máu tăng cao. Nếu men gan tăng từ 1-2 lần là mức độ nhẹ, 2-5 lần là mức độ trung bình, tăng trên 5 lần giới hạn bình thường là mức độ nặng.

Khi men gan tăng cần làm gì?

Khi biết mình bị men gan tăng cao hơn bình thường cần chú ý bảo vệ sức khỏe, trước tiên cần ngừng uống rượu hoặc bỏ hẳn rượu và rất cần đi khám bệnh. Khi men gan tăng, bác sĩ không chỉ dựa vào chỉ số men gan trong máu tăng mà còn dựa vào nhiều yếu tố khác và các xét nghiệm cận lâm sàng khác mới hy vong kết luận được nguyên nhân gây tăng men gan như siêu âm gan, siêu âm hệ thống dẫn mật, tụy tạng cũng như xem xét một số bộ phận khác.

Khi được xác định nguyên nhân thì cần phải nghe lời tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình. Cần nghỉ ngơi không làm các việc nặng, ăn uống điều độ, ăn kiêng, uống kiêng theo tư vẫn của bác sĩ.

Người có men gan tăng cũng không nên chủ quan nhưng không nên lo lắng thái quá ảnh hưởng đến tinh thần, theo đó ảnh hưởng đến sức khỏe, nhất là còn mắc các bệnh khác về tim mạch hoặc bệnh rối loạn chuyển hóa. Khám bệnh định kỳ để theo dõi chỉ số men gan trong máu là việc làm rất cần thiết.




MEN GAN CAO CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Cuộc sống ngày càng hiện đại và rất nhiều người ngày càng tiếp xúc với những yếu tố gây tăng cao men gan. Vậy tăng men gan cao có nguy hiểm gì không cùng tìm hiểu một số bài viết dưới đây nhé

Men gan tăng, cảnh báo bệnh gì?

Men gan nằm trong tế bào gan và chúng tham gia vào các quá trình chuyển hoá quan trọng các chất trong cơ thể. Vì vậy, men gan có một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Khi men gan bị rối loạn, nhất là men gan tăng cao, phải hết sức lưu ý tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp xử trí thích hợp.

Nguyên nhân làm tăng men gan

Bất kỳ người bình thường nào cũng có men gan. Men gan có 4 loại, đó là AST (aspartate transaminase) hoặc còn được gọi là SGOT (serum glutamic oxaloacetic transaminase). Loại thứ 2 là ALT (alanin transaminase) hay còn gọi là SGPT (serum glutamic pyruvic transaminase), hai loại này có trong tế bào gan. Khi gan bị viêm hoặc bị tổn thương thì hai loại men gan này bị rò rỉ vào dòng máu làm cho chỉ số men gan tăng. Loại men gan thứ 3 là alkalin phosphatase có trong màng tế bào gan và loại thứ 4 là GGT (gamma glutamyl transpeptidase) có trong thành của tế bào ống mật. Ở người bình thường, hai loại men gan SGPT và SGOT do tế bào gan sản sinh ra và chúng có hàm lượng cố định trong máu khoảng dưới 40U/l huyết thanh. Qua các nghiên cứu, người ta rút ra rằng khi men gan tăng từ 1 – 2 lần là ở mức độ nhẹ, tăng từ trên 2 – 5 lần là mức độ trung bình và tăng trên 5 lần là ở mức độ nặng. Tỷ lệ ALT và AST có thể mang lại thông tin có giá trị về mức độ và nguyên nhân đối với bệnh của gan. Hầu hết bệnh về gan thì ALT (SGPT) cao hơn AST (SGOT) nhưng trong bệnh xơ gan và nghiện rượu thì mức tăng AST cao hơn ALT (thường tỷ lệ này là 2:1). Khi gan bị viêm hoặc chấn thương vì bất kỳ một lý do nào đó hoặc do tổn thương ở đường dẫn mật làm ứ trệ sự lưu thông của dịch mật thì tế bào gan sẽ gia tăng sản sinh và bài tiết men gan. Sự gia tăng men gan nổi trội nhất là viêm gan cấp tính đặc biệt là viêm gan cấp do siêu vi. Trong viêm gan cấp tính do siêu vi, có khi men gan tăng gấp từ 10 - 20 lần. Đối với viêm gan mạn tính thể tiến triển hoặc xơ gan hoặc viêm gan tự miễn thì men gan cũng có thể gia tăng. Đây cũng là một trong các tiêu chuẩn để đánh giá là viêm gan mạn tính tiến triển hay người lành mang virut viêm gan.

Các nguyên nhân khác làm tổn thương tế bào gan như rượu (đặc biệt là trong các trường hợp nghiện rượu), sốt rét, ung thư gan, ngộ độc hoá chất cũng làm cho men gan gia tăng một cách đáng kể. Bệnh về đường mật cũng có liên quan mật thiết với gan, nhất là các bệnh do sỏi đường dẫn mật, giun chui ống mật, viêm đường mật. Các nguyên nhân này thường làm cho đường dẫn mật phù nề hoặc tắc nghẽn dịch mật khó lưu thông tác động đến tế bào gan và vì vậy làm cho men gan gia tăng. Ngoài ra người ta cũng nhận thấy có một số nguyên nhân ngoài gan như các bệnh nhiễm khuẩn nặng (bệnh sởi, Rubella, nhiễm khuẩn huyết) hoặc một số thuốc cũng có thể làm gia tăng men gan. Đối với thuốc, có một số có tác động rất lớn đến gan, thậm chí gây độc cho gan, điển hình nhất là một số thuốc chống vi khuẩn lao (INH, rifamixin…), thuốc thuộc nhóm fluoquinolon (ciprofloxacin), acetaminophen (paracetamol, tydol, efferalgan…). Khi ngộ độc do thuốc cũng có thể làm men gan gia tăng. Tuy vậy, trong một số trường hợp, mặc dù men gan tăng nhưng không phải từ gan mà bởi các lý do khác, ví dụ hoạt động thể lực mạnh. Vì vậy trong thực tế, người ta thấy rằng khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng, nhất là trường hợp men gan tăng cao là cần phải xem xét, cân nhắc kỹ càng hơn và đặc biệt lưu ý đến gan, mật.

Khi men gan tăng, nên làm gì?

Nếu tình cờ phát hiện men gan trong máu gia tăng, đặc biệt là tăng gấp đôi chỉ số bình thường (trên 40U/l) thì cần đi khám bệnh để bác sĩ xác định nguyên nhân. Hiện nay, khi thấy men gan trong máu tăng thì việc đầu tiên nên nghĩ đến là người đó có bị nhiễm virut viêm gan hay không, vì vậy cần làm xét nghiệm tìm nguyên nhân. Trong các loại viêm gan do siêu vi thì viêm gan B, C có thể dùng phương pháp xét nghiệm nhanh để nhận xét sơ bộ. Riêng viêm gan do virut B, ngoài xét nghiệm xem HBsAg khi có dương tính còn cần làm thêm xét nghiệm HBeAg, HBsAb, antiHBeAg… Nếu có điều kiện thì cần xét nghiệm đánh giá ADN của virut. Khi đã xác định được nguyên nhân thì nên nghe theo tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình.

Nếu men gan tăng do viêm tắc đường dẫn mật thì cần được điều trị triệt để nguyên nhân. Người bị tăng men gan nên đi kiểm tra sức khoẻ định kỳ để được bác sĩ theo dõi và đánh giá sự tiến triển của bệnh. Trong ăn uống hằng ngày, cần kiêng rượu, bia và các loại nước giải khát có cồn, nhất là người đang mắc bệnh về gan (viêm gan cấp, mạn hoặc người lành mang virut viêm gan), mật (sỏi mật, giun chui ống mật, viêm đường dẫn mật) hoặc đã từng mắc bệnh sốt rét. Không nên hút thuốc lá, thuốc lào. Chế độ ăn cũng cần được lưu ý, ví dụ như không ăn mỡ động vật, các loại thức ăn chiên, xào. Khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng trong khi đang dùng một loại thuốc nào đó cũng nên cho bác sĩ khám bệnh và theo dõi sức khoẻ cho mình biết để bác sĩ có phương án giải quyết. Ngoài ra cũng nên vận động cơ thể một cách nhẹ nhàng trừ khi đang bị viêm gan cấp tính.




NHỮNG NGUỒN LÂY LAN BỆNH GAN ÍT NGƯỜI BIẾT ĐẾN

-Dù tỷ lệ lây nhiễm là rất thấp nhưng các chuyên gia y tế cho rằng, nụ hôn sâu có thể trao đổi một lượng lớn nước bọt thì có thể dẫn đến nhiễm viêm gan virus A, B nếu như miệng của người nhiễm virus có vết xước hay tổn thương.

Quan hệ tình dục

là con đường chính gây lây nhiễm cả 3 thể viêm gan virus A, B và C (viêm gan C ít gặp hơn). Cụ thể: Viêm gan A lây nhiễm khi quan hệ tình dục đường miệng; viêm gan B lây truyền qua máu, tinh dịch, dịch âm đạo và các dịch khác của cơ thể. Loại viêm gan này dễ lây truyền hơn HIV (virus gây bệnh AIDS) từ 50 - 100 lần; viêm gan C lây truyền qua tiếp xúc với máu của người đã mắc bệnh (máu ở các vết lở loét đường sinh dục, vết cắt hay máu khi hành kinh). Bất cứ hành vi tình dục nào có thể gây ra trầy xước hay tổn thương đều rất có nguy cơ. Đặc biệt, các chuyên gia bệnh gan cho rằng, quan hệ tình dục theo đường hậu môn có nhiều nguy cơ nhiễm virus viêm gan hơn theo đường âm đạo. Đặc biệt là viêm gan virus B.Quan hệ tình dục “lạ”

Mưa lũ

Là nguồn lây bệnh viêm gan virus E. Bệnh này có thể gặp ở bất cứ nước nào trên thế giới, nhưng tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là các nước vùng nhiệt đới, đặc biệt là những nước vệ sinh môi trường kém, mưa lũ thường hay xảy ra. Lý do virus viêm gan E có trong phân, rác, nước thải khi mưa lũ về làm tràn ngập các vùng đất bẩn có chứa các vi sinh vật gây bệnh, trong đó có virus viêm gan A, E. Từ nước, virus bám vào thức ăn như rau, thực phẩm (do dùng nước sông, ao hồ để rửa), nước uống. Khi con người ăn, uống phải loại thức ăn, nước uống đó sẽ lâm bệnh. Bệnh này chưa có vaccin dự phòng.

Virus viêm gan E sống rất kém khi ra môi trường bên ngoài, do vậy chỉ cần đun sôi nước trong vòng 1 - 2 phút là có khả năng tiêu diệt được chúng. Đây là một đặc điểm rất thuận lợi cho công tác phòng bệnh. Để tiêu diệt nguồn lây, sau mưa lũ, người dân cần tu sửa lại các nhà tiêu không để phân vương vãi, đặc biệt là các huyện miền núi, các vùng triền sông hay có lũ, lụt xảy ra. Cần có biện pháp khử khuẩn nguồn nước bằng cloramin đúng phương pháp (dưới sự hướng dẫn của cán bộ y tế).

Đề phòng… dao thớt

Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm An toàn thực phẩm tại Đại học Georgia (Mỹ) đã sử dụng dao mới và bàn mài trên 6 loại trái cây và rau quả đã được tiêm virus viêm gan A. Kết quả cho thấy hơn phân nửa số dao và bàn bị nhiễm virus sau khi tiếp xúc với rau củ nêu trên, rồi virus truyền qua những con dao chưa tiếp xúc để bên cạnh. Với những người có miễn dịch yếu, có thể nhiễm bệnh. Vì thế, các nhà khoa học khuyên người làm bếp nên rửa dao sau mỗi lần dùng để tránh virus lây lan.





MEN GAN TĂNG CẢNH BÁO BỆNH GÌ

Men gan cao có nguy hiểm không

Cuộc sống ngày càng hiện đại và rất nhiều người ngày càng tiếp xúc với những yếu tố gây tăng cao men gan. Vậy tăng men gan cao có nguy hiểm gì không cùng tìm hiểu một số bài viết dưới đây nhé

Men gan tăng, cảnh báo bệnh gì?

Men gan nằm trong tế bào gan và chúng tham gia vào các quá trình chuyển hoá quan trọng các chất trong cơ thể. Vì vậy, men gan có một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Khi men gan bị rối loạn, nhất là men gan tăng cao, phải hết sức lưu ý tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp xử trí thích hợp.

Nguyên nhân làm tăng men gan

Bất kỳ người bình thường nào cũng có men gan. Men gan có 4 loại, đó là AST (aspartate transaminase) hoặc còn được gọi là SGOT (serum glutamic oxaloacetic transaminase). Loại thứ 2 là ALT (alanin transaminase) hay còn gọi là SGPT (serum glutamic pyruvic transaminase), hai loại này có trong tế bào gan. Khi gan bị viêm hoặc bị tổn thương thì hai loại men gan này bị rò rỉ vào dòng máu làm cho chỉ số men gan tăng. Loại men gan thứ 3 là alkalin phosphatase có trong màng tế bào gan và loại thứ 4 là GGT (gamma glutamyl transpeptidase) có trong thành của tế bào ống mật. Ở người bình thường, hai loại men gan SGPT và SGOT do tế bào gan sản sinh ra và chúng có hàm lượng cố định trong máu khoảng dưới 40U/l huyết thanh.

Qua các nghiên cứu, người ta rút ra rằng khi men gan tăng từ 1 – 2 lần là ở mức độ nhẹ, tăng từ trên 2 – 5 lần là mức độ trung bình và tăng trên 5 lần là ở mức độ nặng. Tỷ lệ ALT và AST có thể mang lại thông tin có giá trị về mức độ và nguyên nhân đối với bệnh của gan. Hầu hết bệnh về gan thì ALT (SGPT) cao hơn AST (SGOT) nhưng trong bệnh xơ gan và nghiện rượu thì mức tăng AST cao hơn ALT (thường tỷ lệ này là 2:1). Khi gan bị viêm hoặc chấn thương vì bất kỳ một lý do nào đó hoặc do tổn thương ở đường dẫn mật làm ứ trệ sự lưu thông của dịch mật thì tế bào gan sẽ gia tăng sản sinh và bài tiết men gan. Sự gia tăng men gan nổi trội nhất là viêm gan cấp tính đặc biệt là viêm gan cấp do siêu vi.

Trong viêm gan cấp tính do siêu vi, có khi men gan tăng gấp từ 10 - 20 lần. Đối với viêm gan mạn tính thể tiến triển hoặc xơ gan hoặc viêm gan tự miễn thì men gan cũng có thể gia tăng. Đây cũng là một trong các tiêu chuẩn để đánh giá là viêm gan mạn tính tiến triển hay người lành mang virut viêm gan. Các nguyên nhân khác làm tổn thương tế bào gan như rượu (đặc biệt là trong các trường hợp nghiện rượu), sốt rét, ung thư gan, ngộ độc hoá chất cũng làm cho men gan gia tăng một cách đáng kể. Bệnh về đường mật cũng có liên quan mật thiết với gan, nhất là các bệnh do sỏi đường dẫn mật, giun chui ống mật, viêm đường mật. Các nguyên nhân này thường làm cho đường dẫn mật phù nề hoặc tắc nghẽn dịch mật khó lưu thông tác động đến tế bào gan và vì vậy làm cho men gan gia tăng.
Ngoài ra người ta cũng nhận thấy có một số nguyên nhân ngoài gan như các bệnh nhiễm khuẩn nặng (bệnh sởi, Rubella, nhiễm khuẩn huyết) hoặc một số thuốc cũng có thể làm gia tăng men gan. Đối với thuốc, có một số có tác động rất lớn đến gan, thậm chí gây độc cho gan, điển hình nhất là một số thuốc chống vi khuẩn lao (INH, rifamixin…), thuốc thuộc nhóm fluoquinolon (ciprofloxacin), acetaminophen (paracetamol, tydol, efferalgan…). Khi ngộ độc do thuốc cũng có thể làm men gan gia tăng. Tuy vậy, trong một số trường hợp, mặc dù men gan tăng nhưng không phải từ gan mà bởi các lý do khác, ví dụ hoạt động thể lực mạnh. Vì vậy trong thực tế, người ta thấy rằng khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng, nhất là trường hợp men gan tăng cao là cần phải xem xét, cân nhắc kỹ càng hơn và đặc biệt lưu ý đến gan, mật.

Khi men gan tăng, nên làm gì?

Nếu tình cờ phát hiện men gan trong máu gia tăng, đặc biệt là tăng gấp đôi chỉ số bình thường (trên 40U/l) thì cần đi khám bệnh để bác sĩ xác định nguyên nhân. Hiện nay, khi thấy men gan trong máu tăng thì việc đầu tiên nên nghĩ đến là người đó có bị nhiễm virut viêm gan hay không, vì vậy cần làm xét nghiệm tìm nguyên nhân. Trong các loại viêm gan do siêu vi thì viêm gan B, C có thể dùng phương pháp xét nghiệm nhanh để nhận xét sơ bộ. Riêng viêm gan do virut B, ngoài xét nghiệm xem HBsAg khi có dương tính còn cần làm thêm xét nghiệm HBeAg, HBsAb, antiHBeAg…

Nếu có điều kiện thì cần xét nghiệm đánh giá ADN của virut. Khi đã xác định được nguyên nhân thì nên nghe theo tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình. Nếu men gan tăng do viêm tắc đường dẫn mật thì cần được điều trị triệt để nguyên nhân. Người bị tăng men gan nên đi kiểm tra sức khoẻ định kỳ để được bác sĩ theo dõi và đánh giá sự tiến triển của bệnh. Trong ăn uống hằng ngày, cần kiêng rượu, bia và các loại nước giải khát có cồn, nhất là người đang mắc bệnh về gan (viêm gan cấp, mạn hoặc người lành mang virut viêm gan), mật (sỏi mật, giun chui ống mật, viêm đường dẫn mật) hoặc đã từng mắc bệnh sốt rét. Không nên hút thuốc lá, thuốc lào. Chế độ ăn cũng cần được lưu ý, ví dụ như không ăn mỡ động vật, các loại thức ăn chiên, xào.

Khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng trong khi đang dùng một loại thuốc nào đó cũng nên cho bác sĩ khám bệnh và theo dõi sức khoẻ cho mình biết để bác sĩ có phương án giải quyết. Ngoài ra cũng nên vận động cơ thể một cách nhẹ nhàng trừ khi đang bị viêm gan cấp tính.

YẾU GAN VÀ NHỮNG HỆ LỤY

 Gan yếu và những hệ lụy

“Thời tiết thay đổi khiến cho trong người tôi rất ngứa ngáy khó chịu, mẩn ngứa, dị ứng, mề đay… nổi khắp người, tôi trở nên ăn không ngon ngủ không yên với chứng bệnh này”, anh Tâm, bệnh nhân đang điều trị gan tại khoa Gan - Mật, Bệnh viện Nhân dân Gia Định (TPHCM) nhăn nhó.

“Tôi cảm thấy đắng miệng, ăn uống không ngon, bụng có cảm giác đầy hơi, căng chướng. Thời gian gần đây tôi thấy da dẻ của mình sạm vàng, cơ thể mệt mỏi… tôi đã đi khám và nhập viện cách đây 2 tuần nhưng vẫn chưa thấy có nhiều tiến triển”, là lo lắng của anh Khải, bệnh nhân đang điều trị tại khoa Tiêu hóa - Gan – Mật, Bệnh viện Đại học Y dược (TPHCM).

Dược sỹ Hồ Thị Tú cho biết: “Khi gan suy giảm chức năng sẽ kéo theo rất nhiều căn bệnh cho cơ thể, biểu hiện bên ngoài là mụn nhọt, mụn trứng cá, sạm da, vàng da… bên trong là giảm tiết dịch tiêu hóa, giảm tiết mật ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa thức ăn dẫn đến chán ăn, đắng miệng, ăn không ngon miệng, ăn không tiêu, sợ những thức ăn nhiều dầu mỡ, đầy bụng, chướng hơi, hay bị táo bón… Các triệu chứng này thường tái phát nhiều lần vào mùa hè do thời tiết nắng nóng kéo dài, khói bụi ô nhiễm… Bệnh gây mất thẩm mỹ, ảnh hưởng tới sinh hoạt và chất lượng cuộc sống hàng ngày của bệnh nhân”.

Tăng cường ăn nhiều rau xanh và uống nhiều nước để thanh lọc cơ thể

Ngoài ra, khi gan suy yếu còn dẫn đến những dấu hiệu rất dễ nhầm lẫn với bệnh cảm cúm thông thường như sốt nhẹ, mệt mỏi, chán ăn, đau cơ… hoặc một số triệu chứng khác như sút cân đột ngột, đau đầu, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, dễ cáu gắt, giảm ham muốn tình dục, mất ngủ, suy giảm trí nhớ...

Giải pháp cho lá gan khỏe mạnh

Khi biết những tác nhân làm gan suy yếu, điều quan trọng nhất là cần phải bảo vệ gan, tăng cường chức năng gan. Hãy nói không với bia rượu, thuốc lá… đặc biệt là những người đang bị viêm gan. Cần hạn chế những thực phẩm nhiều dầu mỡ , chất béo, chất bảo quản…; Tăng cường ăn nhiều rau xanh và uống nhiều nước để thanh lọc cơ thể.

Tránh lạm dụng thuốc tây, sử dụng thuốc theo hướng dẫn điều trị từ bác sĩ. Bên cạnh đó cần có lối sống lành mạnh, ngăn ngừa các nguồn lây nhiễm và duy trì thói quen tập thể dục hàng ngày. Cần ăn uống đủ dinh dưỡng và nghỉ ngơi hợp lý để gan được phục hồi.

Ngoài ra với những thảo dược có nguồn gốc từ thiên nhiên như Bìm bìm, Bồ công anh, Actiso… cũng góp phần giải độc gan, tăng cường chức năng gan giúp bảo vệ và phục hồi tế bào gan hiệu quả.

NHIỄM VIRUT VIÊM GAN B CÓ GÂY DỊ ỨNG?


Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay trên toàn thế giới có hơn 2 tỉ người mang những dấu hiệu chứng tỏ đã từng bị nhiễm viêm gan virut B (HBV), trong đó 2/3 số trường hợp này là ở châu Á. Việt Nam có khoảng 10 - 15% dân số bị nhiễm HBV. Như chúng ta đã biết, gan đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng như: chuyển glucose thành glycogen, một dạng dự trữ đường; tổng hợp albumin và prothrombin là hai chất đạm quan trọng trong cơ thể; kiểm soát sự tạo ra và tiết cholesterol; khử các chất độc trong máu như rượu, thuốc và hóa chất; bài tiết ra muối mật và sắc tố mật; dự trữ vitamin... Vì thế gan bị viêm sẽ ảnh hưởng đến nhiều cơ quan khác.

Bệnh nhân viêm gan B đôi khi có những triệu chứng không rõ ràng như: sốt, nhức đầu, đau nhức mình, mệt mỏi giống như bị cảm cúm; buồn nôn, chán ăn, đau tức vùng dưới sườn bên phải, nước tiểu vàng đậm sau đó vàng da, vàng mắt. Nếu viêm gan nặng, chức năng gan suy giảm, xét nghiệm thấy men gan tăng. Để phòng tránh tốt nhất, mỗi chúng ta hãy đến gặp bác sĩ để được xét nghiệm và tiêm phòng viêm gan nếu chưa bị nhiễm. Trường hợp của bạn có nhiễm virut viêm gan B, hiện tại xét nghiệm men gan bình thường thì cũng không đáng lo, nhưng cần thăm khám định kỳ 6 tháng/lần.

Còn biểu hiện thường xuyên bị dị ứng, mẩn ngứa thì không phải do gan mà có thể do bạn bị cơ địa dị ứng như ăn thực phẩm gây dị ứng như tôm cua, dị ứng thời tiết lạnh, dị ứng ánh sáng, chất tiếp xúc như xà phòng, mỹ phẩm... Bạn cần theo dõi để tránh các yếu tố là nguyên nhân gây dị ứng thì bệnh mẩn ngứa mới khỏi được và cần khám ở chuyên khoa dị ứng và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Trong trường hợp bệnh gan mật cũng có thể gây mẩn ngứa toàn thân do tăng sắc tố mật, nhưng thường kèm theo có vàng da và khi điều trị hết vàng da thì mẩn ngứa cũng hết dần.

NGƯỜI LÀNH NHIỄM VIRUT VIÊM GAN B CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?


Người lành mang virus viêm gan B có nguy hiểm không?

Chúng ta biết rằng, khi virus viêm gan B vào cơ thể người, nếu cơ thể đó chưa có miễn dịch chống virus viêm gan B thì nguy cơ bị virus tấn công là điều khó tránh khỏi. Tuy vậy, người ta thấy rằng có tới 90% người bị nhiễm virus viêm gan B sau 6 tháng sẽ khỏi hoàn toàn một cách vĩnh viễn và không để lại di chứng gì mặc dù không cần dùng bất cứ một loại thuốc nào hoặc một tác động nào. Số 10% còn lại nhiễm virus viêm gan B hoặc có biểu hiện lâm sàng.

Ở người trưởng thành, người viêm gan B thể nhẹ thì chán ăn, mệt mỏi, rối loạn tiêu hoá (buồn nôn, nôn), nước tiểu vàng đậm. Loại biểu hiện lâm sàng nặng (viêm gan cấp tính) thì triệu chứng lâm sàng rầm rộ hơn rất nhiều như vàng da, vàng niêm mạc lòng bàn tay, bàn chân, vàng mắt, lưỡi vàng, nước tiểu sẫm màu như nước vối, có thể phân bạc màu. Tuy vậy, nhiễm virus viêm gan B ở trẻ sơ sinh lây truyền từ mẹ thì biểu hiện của bệnh không giống như ở người trưởng thành mà bệnh diễn biến hoàn toàn khác hẳn người trưởng thành.

Người ta tổng kết cho thấy rằng có khoảng 90% số trẻ bị lây nhiễm viêm gan B từ mẹ trở thành trẻ viêm gan mạn tính kéo dài trong nhiều năm (có thể không có biểu hiện lâm sàng gì) và hậu quả cuối cùng là bị xơ gan cổ trướng hoặc bị ung thư gan sau này. Muốn xác định người bị nhiễm viêm gan B trở thành viêm gan mạn tính thể người lành mang virus viêm gan B, người ta phải làm các xét nghiệm cần thiết như HBsAg, HBeAg, xét nghiệm men gan như GSOT và SGPT.

Nếu có điều kiện cần xét nghiệm định lượng ADN HBV. Khi HBsAg dương tính chứng tỏ virus viêm gan B đang tồn tại trong cơ thể người đó và vì vậy virus viêm gan B vẫn có khả năng lây nhiễm cho người khác bằng đường máu (tiêm chích, châm, đánh răng, cạo râu, xăm mình, cho máu) hoặc theo đường tình dục, mẹ truyền cho con. Tuy nhiên khi HBeAg và ADN HBV âm tính, điều này nói lên rằng virus viêm gan B không nhân lên (không sinh sôi nảy nở thêm) và virus không còn tấn công tế bào gan nên chức năng gan trở lại bình thường (men gan không tăng).

Người lành mang virus viêm gan B có nên điều trị và tiêm phòng vaccin viêm gan B không?

Như trên đã trình bày, người lành mang virus viêm gan B tạm thời virus không hoạt động nên không làm ảnh hưởng đến hoạt động của gan cho nên không cần điều trị bất kỳ một loại thuốc nào. Hiện nay có khá nhiều thuốc tây y có tác dụng ức chế làm hạn chế virus viêm gan B phát triển nhưng chỉ dùng cho loại viêm gan B cấp tính và mạn tính. Đối với người lành mang virus viêm gan B, không cần dùng bất cứ một loại thuốc gì. Khi xác định bị viêm gan hoặc người lành mang virus viêm gan B thì không cần tiêm vaccin viêm gan B nữa, nói một cách khác là nếu tiêm thì thừa (vô tác dụng).

Người lành mang virus viêm gan B nên làm gì?

Khi đã trở thành người lành mang virus viêm gan B thì phải được kiểm tra sức khoẻ và làm các xét nghiệm định kỳ có liên quan đến virus viêm gan B như HBsAg, HBeAg, ADN HBV để được theo dõi thật chặt chẽ đề phòng virus viêm gan B tái hoạt động. Tuyệt đối kiêng rượu, bia. Không hút thuốc lá, không ăn mỡ động vật. Cần có cuộc sống thoải mái và nên rèn luyện sức khoẻ phù hợp với điều kiện của bản thân (như tập thể dục buổi sáng, đi bộ, bơi hoặc chơi cầu lông). Không để người khác dùng chung dao cạo râu (nam giới), bàn chải đánh răng, nếu sinh hoạt tình dục cần có biện pháp phòng lây truyền là dùng bao cao su đúng quy cách. Không cho máu, khi bị chấn thương chảy máu, cần cho người xử lý vết thương, người tiêm thuốc cho mình biết bản thân đang là người mang virus viêm gan B để họ có ý thức tránh tai nạn nghề nghiệp.


NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM ĐỂ HẠ MEN GAN

Gan là cơ quan chịu trách nhiệm loại bỏ độc tố và chuyển hóa thức ăn trong cơ thể. Mỗi ngày trôi qua, gan dường như phải chịu thêm nhiều áp lực do sự tích tụ các độc tố tại gan gây nên.

Điều này khiến gan rất dễ bị tổn thương. Men gan tăng cao là triệu chứng xuất hiện rất sớm, báo hiệu lá gan cần được chăm sóc. Để đưa men gan về ngưỡng an toàn, bạn nên làm theo các bước sau:

1. Không uống bia rượu
                             
Hay nói chính xác hơn là không dùng những đồ uống chứa cồn. Thông thường khi vào cơ thể, gan sẽ phải “xử lý” lượng chất cồn và đào thải chúng ra ngoài. Nhưng khi gan yếu hoặc lượng chất cồn quá nhiều thì điều ngược lại sẽ xảy ra, chất cồn sẽ “xử lý” gan, phá hủy tế bào gan. Do đó, trong cuộc sống hàng ngày, bạn nên hạn chế uống bia rượu để bảo vệ lá gan. Đặc biệt khi gan bị viêm, men gan cao, người bệnh cần phải kiêng tuyệt đối bia rượu để giúp gan hồi phục nhanh đặc biệt là với bệnh nhân gan nhiễm mỡ .

2. Trao đổi với bác sĩ, dược sĩ về loại thuốc bạn đang sử dụng

Một số thuốc có thể gây hại cho gan và làm tăng men gan. Có những thuốc có thể gây độc tố ngay ở liều đầu tiên, nhưng cũng có những thuốc do sử dụng trong thời gian kéo dài nên gây tổn thương gan. Do đó, nếu bạn phát hiện men gan cao khi đang dùng một loại thuốc nào đó, bạn nên trao đổi với bác sĩ để tìm ra nguyên nhân chính xác.

3. Hạn chế ăn thực phẩm chế biển sẵn

Thức ăn nhanh rất tiện dụng và ngày càng phổ biến. Tuy nhiên bạn không nên ăn chúng hàng ngày vì vấn đề sức khỏe. Thông thường trong các thực phẩm chế biến sẵn có chứa thêm chất bảo quản, chất phụ gia tạo màu, mùi vị…để tạo sức hấp dẫn cho khách hàng và bảo quản được lâu. Những chất hóa học tổng hợp này thường khó phân hủy và đào thải ra ngoài, nên tích tụ lại trong cơ thể, đặc biệt tại gan, gây nhiễm độc gan.

4. Tránh xa các độc tố môi trường (sơn tường, khói thuốc lá…)

Khói thuốc lá chứa nhiều độc tố không chỉ gây bệnh về phổi, mà còn hấp thu vào máu, chuyển hóa tại gan và gây tổn thương cho gan.

Trong thành phần của sơn (tường) có chứa nhiều dung môi hòa tan, dễ bay hơi trong không khí và nếu bạn thường xuyên hít phải loại dung môi này, nó có thể hấp thụ vào cơ thể, gây độc hại cho gan. Do đó, bạn nên học cách bảo vệ và tránh xa các độc tố này.
                                                                                                                    
5. Uống nhiều nước

Uống nhiều nước rất có lợi cho gan. Uống nước giúp đẩy nhanh quá trình tuần hoàn máu và tăng cường khả năng hoạt động của các tế bào gan, giúp quá trình đào thải các chất độc ra khỏi cơ thể nhanh hơn. Để đạt được hiệu quả giải độc cho gan, mỗi ngày nên uống 2 lít – 2,5 lít nước, chia thành nhiều lần trong ngày, mỗi lần chỉ nên uống từ 150 -200ml.

6. Giảm cân

Trong nhiều trường hợp tăng men gan là do lượng mỡ lắng đọng trong gan nhiều hơn bình thường, hay còn gọi là gan nhiễm mỡ. Theo nghiên cứu Dennis Lee, việc giảm 5 – 10 % cân nặng sẽ giúp bạn hạ thấp men gan và cải thiện sức khỏe nói chung. Bạn nên giảm tiêu thụ các thực phẩm giàu chất béo và tăng khẩu phần rau quả chứa nhiều vitamin giúp gan đào thải độc tố tốt hơn.

7. Tập thể dục hàng ngày

Luyện tập thể dục hàng ngày không chỉ giúp kiểm soát cân nặng tốt hơn, mà còn giúp bạn cải thiện tuần hoàn máu. Gan cần cung cấp máu và chất dinh dưỡng liên tục để hoạt động tốt hơn.


LÀM SAO ĐỂ BIẾT BỊ KHÁNG THUỐC ?

Chắc là tôi phải được điều trị bằng thuốc kháng virus một thời gian dài rồi!!...Các thuốc này có hiệu quả không và có thể bị virus đề  kháng không? và làm thế nào để biết được thuốc tôi đang sử dụng là bị đề kháng?
                                                         
Do phải điều trị thuốc kháng virus một thời gian dài nên virus có cơ hội tiếp xúc với thuốc kháng virus và như vậy là chúng có cơ hội bị đột biến để kháng thuốc. Do vậy nếu trong thời gian điều trị, xét nghiệm theo dõi virus là HBV-DNA bổng nhiên bị trở lại dương tính và lượng HBV-DNA bị tăng lên dần thì đây chính là dấu hiệu cho biết virus có khả năng kháng lại thuốc đang điều trị. Lúc này cần phải xét nghiệm để phát hiện xem thuốc có bị virus đề kháng không?. Hiện nay công ty Nam Khoa đã phát triển được phương pháp giải trình tự một đoạn gen 550bases ở vùng gene preS của virus để có thể phát hiện được rất nhiều điểm đột biến gây nên tình trạng virus viêm gan B đề kháng được lamivudine và adefovir là hai thuốc kháng virus hiện đang được sử dụng tại Việt Nam. Kỹ thuật này vượt trội hơn nhiều kỹ thuật khác là nhờ khả năng phát hiện được nhiều vị trí đột biến do vậy sẽ cung cấp cho bác sĩ nhiều thông tin hơn để cho quyết định chính xác hơn là liệu có nên thay đổi thuốc không.

Nói tóm lại, tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B tại Việt Nam trong dân số khá cao (>15%). Tuy nhiên không phải ai bị nhiễm virus viêm gan B đều cần phải được điều trị mà cần phải phân biệt họ có phải là người lành mang virus hay là người đang bị viên gan virus B mạn tính. Bác sĩ chỉ nên điều trị cho người đã xác định là bị viêm gan virus B mạn tính mà thôi, và xét nghiệm sinh học phân tử rất cần thiết để chỉ định trên bệnh nhân là xét nghiệm phát hiện và định lượng HBV-DNA. Khi đã điều trị cho bệnh nhân thì ngoài xét nghiệm định lượng HBV-DNA để theo dõi hiệu quả điều trị thì các xét nghiệm sinh học phân tử khác cũng rất cần thiết phải chỉ định trên bệnh nhân, ví dụ xét nghiệm phát hiện đột biến precore cũng rất cần phải cho trên bệnh nhân HBeAg âm tính, anti-HBeAb dương tính mà HBV-DNA vẫn còn dương tính để xác định bệnh nhân có bị đột biến precore hay không mà quyết định xem liệu có phải điều trị suốt đời cho bệnh nhân không. Ngoài ra xét nghiệm phát hiện các đột biến gây ra kháng thuốc cũng rất cần thiết phải được chỉ định nếu trong quá trình điều trị bổng nhiên HBV-DNA của bệnh nhân dương tính với số lượng tăng lên trở lại.

XÉT NGHIỆM HBV

Tôi biết được là hiện nay có nhiều nơi làm xét nghiệm phát hiện và định lượng HBV-DNA nhưng kết quả có khi lại khác nhau dù thử trên cùng một bệnh nhân!! Do vậy làm thế nào để tin tưởng được một kết quả xét nghiệm HBV-DNA vì đây là một xét nghiệm mà chi phí bệnh nhân phải trả cũng không phải là ít?
                                                                                                                                 
Đúng là như vậy. Xét nghiệm HBV-DNA là xét nghiệm dựa trên kỹ thuật PCR là một kỹ thuật hoàn toàn mở nên người làm xét nghiệm có thể tự pha thuốc thử để làm xét nghiệm mà không phải bị lệ thuộc và các kit xét nghiệm mua từ các hãng nước ngoài rất đắt tiền.

Tuy nhiên vì là hệ thống mở nên muốn kết quả xét nghiệm được chính xác thì người làm xét nghiệm phải thực hiện đủ các chứng để kiểm soát không cho các sơ sót xãy ra trong quá trình làm xét nghiệm và các chứng này phải hiển thị trên kết quả xét nghiệm. Với một xét nghiệm phát hiện HBV-DNA, kết quả phải hiển thị: (1) một chứng dương để chứng minh khâu khuếch đại trong quá trình xét nghiệm đủ nhạy cảm, (2) một chứng âm để chứng minh quá trình thao tác xét nghiệm không bị ngoại nhiễm gây ra kết quả dương tính giả, (3) một chứng nội tại trong chứng âm để chứng minh khâu tách chiết DNA từ mẫu thử đạt độ nhạy, (4) và đồng thời mẫu âm tính phải có chúng nội tại để chứng minh âm tính là thật sự âm tính chứ không phải là âm tính giả.

Đối với xét nghiệm định lượng HBV-DNA thì trong kết quả phải hiển thị được đường biểu diển chuẩn để chứng minh thao tác định lượng đạt chuẩn thông qua hệ số tương quan (R) của các mẫu chuẩn phải đạt trên 0.990 và hiệu quả phản ứng (E) phải đạt 90-105% và đồng thời chứng minh kết quả định lượng là được tính toán từ kết quả của các mẫu chuẩn được chạy song hành cùng với mẫu thử chứ không phải là được tính toán từ một công thức có sẵn.

Ngoài ra, nếu muốn kết luận một kết quả âm tính thì trong kết quả định lượng phải hiển thị được mẫu đó dương tính được với chứng nội tại để đảm bảo âm tính này là âm tính thật sự chứ không phải âm tính giả vì phản ứng khuếch đại bị ức chế.

VIÊM GAN SIÊU VI B

Tôi đi thử máu có kết quả dương tính HBsAg, vậy là có bị gì không?

HBsAg là kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B. Một người thử máu thấy HBsAg dương tính tức là người đó đang bị nhiễm virus viêm gan B
                                                              
Như vậy là có bị nguy hiểm không? có cần phải điều trị hay không?

Đa số người bị nhiễm virút viêm gan B thì sẽ có được đáp ứng miễn dịch bảo vệ, tức là sẽ tạo được kháng thể chống HBsAg (gọi là anti-HBsAg) và tiêu diệt được virus viêm gan B. Người đó khi thử máu sẽ dương tính anti-HBsAg. Tuy nhiên có một số người hệ miễn dịch lại không thể tạo ra được kháng thể bảo vệ này nên thử máu lúc nào cũng dương tính với HBsAg. Trong cơ thể của người đó có một sự đấu tranh qua lại giữa hệ miễn dịch và virus. Nếu hệ miễn dịch cân bằng được hay ưu thế hơn thì sẽ kiềm hãm không cho virus nhân bản được thành các virus hoàn chỉnh do vậy mà sẽ không có hay sẽ có rất ít virus hoàn chỉnh vào trong máu. Những trường hợp này được gọi là người lành mang virus, nếu thử máu sẽ thấy HBsAg dương tính nhưng dấu hiệu cho thấy có virus hoàn chỉnh là HBV-DNA, tức là acid nhân của virus, thường âm tính hay dương tính với số lượng (số copies) rất thấp (<105/ml).

Nhưng nếu hệ miễn dịch không kiềm hãm được mà để virus thắng thế thì chúng sẽ nhân bản được nhiều trong tế bào gan tạo ra được nhiều virus hoàn chỉnh vào máu của bệnh nhân và lúc này thử máu sẽ thấy HBsAg dương tính đồng thời có virus hoàn chỉnh hiện diện trong máu với số lượng cao phát hiện thông qua xét nghiệm HBV-DNA cho kết quả dương tính và số lượng vượt trên 105 copies/ml. Trong trường hợp này cần phải xác định gan người bệnh có bị tổn hại không, tức là người đó có bị viêm gan mạn tính không? Nếu xác định là bị viêm gan mạn tính thì phải được điều trị đặc hiệu.

Do vậy, nếu một người bị HBsAg dương tính, chúng ta cần phải cần phải thử máu xem HBV-DNA có bị dương tính không và số lượng bao nhiêu? Nếu HBV-DNA dương tính với số lượng quá 105/ml thì phải tiếp tục xem men gan (là thử nghiệm ALT hay SGPT) của họ có cao không? Nếu cao vượt ngưỡng 2 lần bình thường (ALT bình thường là 19 IU ở nữ và 33 IU ở nam) thì được coi là viêm gan mạn tính và phải điều trị. Nếu men gan bình thường thì cần phải chắc chắn là tế bào gan có bị thương tổn không thông qua xét nghiệm về hình thái tế bào gan như sinh thiết gan hay fibroscan. Nếu kết quả cho thấy có thương tổn thì họ cũng phải được xem là đang bị viêm gan mạn tính và phải cần điều trị đặc hiệu cho bệnh nhân dù men gan bình thường.

Như vậy là nếu bị HBsAg dương tính thì cần phải làm xét nghiệm HBV-DNA. Vậy thì xét nghiệm HBV-DNA là gì? Làm sao thực hiện được?

Virus viêm gan B có phần lõi của nó là DNA tức là acid nhân chứa đựng các thông tin di truyền của virus. Virus viêm gan B một khi nhân bản hoàn chỉnh thì sẽ tạo được một virus hoàn chỉnh tức là bên trong phần vỏ của nó (đó là kháng nguyên vỏ hay kháng nguyên bề mặt HBsAg) có chứa được phần lõi HBV-DNA. Xét nghiệm HBV-DNA tức là xét nghiệm tìm xem trong máu của bệnh nhân có mang virus hoàn chỉnh hay không. Đây là xét nghiệm sinh học phân tử, thông thường được thực hiện bằng kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) là kỹ thuật nhân bản DNA trong ống nghiệm qua các chu kỳ nhiệt độ.

Trong xét nghiệm này, máu của bệnh nhân sau khi lấy sẽ được tách huyết thanh hay huyết tương và sau đó phòng thí nghiệm sẽ tách chiết DNA của virus trong các mẫu huyết tương và huyết thanh này để đưa vào một ống nghiệm rồi nhân bản các DNA này trong ống nghiệm thành hàng tỷ bản sao để phát hiện. Nhờ nhân bản lên từ một bản gốc thành hàng tỷ bản sao rồi mới phát hiện nên xét nghiệm này có độ nhạy cảm cực kỳ cao đủ sức để phát hiện DNA của virus có trong mẫu thử dù với số lượng rất thấp. Ngoài ra, ngày hôm nay với xét nghiệm PCR người ta còn có thể đếm được số lượng bản gốc DNA ban đầu có trong mẫu thử là bao nhiêu dựa vào kỹ thuật PCR định lượng, được gọi là qPCR hay real-time PCR. Về mặt nguyên tắc qPCR cũng giống như PCR nhưng có thêm một tính năng nữa là có thể đếm được có bao nhiêu bản gốc DNA trước khi được nhân bản nhờ một hệ thống quang học có khả năng phát hiện được phản ứng xãy ra trong ống nghiệm trong khi nhân bản xãy ra.

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH UNG THƯ GAN

UNG THƯ GAN LÀ GÌ ?

- Ung thư gan (ung thư biểu mô tế bào gan, HCC) là gì?

- Ung thư gan (ung thư biểu mô tế bào gan) là một ung thư phát sinh từ gan.Nó còn được gọi là

ung thư gan nguyên phát hoặc hepatoma. Gan được tạo thành các loại tế bào khác nhau (ví dụ, ống mật, mạch máu, và lưu trữ các tế bào chất béo).

* Ung thư gan có thể được chia thành ung thư gan nguyên phát và ung thư gan thứ cấp:

+ Ung thư gan nguyên phát là ung thư bắt đầu (có nguồn gốc) trong gan.

+ Thứ cấp (di căn) ung thư gan có nghĩa là một ung thư bắt đầu trong một phần khác của cơ thể đã lây lan đến gan. Nhiều loại ung thư có thể lan đến gan. Thông thường nhất, ung thư ruột, tuyến tụy, phổi, dạ dày hoặc vú. Hành vi này, điều trị và triển vọng của bệnh ung thư gan thứ cấp thường khá khác nhau để ung thư gan nguyên phát.
                                                                                                                            
 *NGUYÊN NHÂN:

Do Viêm gan B lây nhiễm

Viêm gan B có thể có nguồn gốc từ các sản phẩm máu bị ô nhiễm hoặc kim được sử dụng hoặc tiếp xúc tình dục. Vai trò của nhiễm viêm gan B (HBV) virus gây ra ung thư gan cũng được thành lập. Như đã nói trước đó, tỷ lệ ung thư gan liên quan nhiễm virus viêm gan B mãn tính có nguy cơ cao.

Ngoài ra, bệnh nhân có virus viêm gan B có nguy cơ lớn nhất cho ung thư gan là nam giới với xơ gan vi rút viêm gan B (sẹo gan) và tiền sử gia đình ung thư gan.

Viêm gan B mãn tính gây ung thư gan như thế nào? Ở những bệnh nhân bị nhiễm hai virus viêm gan B mãn tính và ung thư gan, cơ cấu di truyền của virus viêm gan B thường được tìm thấy là một phần của cơ cấu di truyền của các tế bào ung thư. Người ta cho rằng khu vực cụ thể của bộ gen virus viêm gan B (mã di truyền) vào những cấu tạo di truyền của tế bào gan. Cơ cấu di truyền vi rút viêm gan B này sau đó có thể phá vỡ các cơ cấu bình thường trong tế bào gan, do đó gây ra các tế bào gan để trở thành ung thư.

Do Viêm gan C lây nhiễm:

-Virus viêm gan C (HCV) là khó khăn hơn để phát triển thành ung thư gan hơn so với viêm gan B. Nó thường đòi hỏi phải tiếp xúc trực tiếp với máu bị nhiễm, hoặc từ các sản phẩm máu hoặc kim tiêm bị ô nhiễm. HCV cũng được kết hợp với sự phát triển của ung thư gan. Trong thực tế, ở Nhật Bản, viêm gan siêu vi C là hiện diện trong 75% trường hợp ung thư gan. Virus viêm gan B, phần lớn các bệnh nhân viêm gan siêu vi C với ung thư gan có liên quan đến xơ gan (sẹo gan). Trong một số nghiên cứu tương lai của lịch sử tự nhiên của viêm gan C, thời gian trung bình để phát triển ung thư gan sau khi tiếp xúc với virus viêm gan C là khoảng 28 năm. Ung thư gan xảy ra khoảng tám đến 10 năm sau khi sự phát triển của xơ gan ở những bệnh nhân với viêm gan C. Một số báo cáo nghiên cứu tiềm năng châu Âu có tỷ lệ hàng năm (xảy ra theo thời gian) của ung thư gan ở bệnh nhân xơ gan viêm gan siêu vi C trong khoảng từ 1,4% -2,5 % mỗi năm.

-Ở bệnh nhân viêm gan siêu vi C, các yếu tố nguy cơ phát triển ung thư gan bao gồm sự hiện diện của xơ gan, tuổi cao phần lớn ở nam giới, phát triển lên mức một khối u máu, sử dụng rượu, và đồng nhiễm với virus viêm gan B. Một số nghiên cứu trước đó cho rằng kiểu gen vi rút viêm gan C 1b có thể là một yếu tố nguy cơ, nhưng nghiên cứu gần đây không hỗ trợ phát hiện này.

-Cách thức mà virus viêm gan C gây ra ung thư gan chưa được hiểu rõ.Không giống như virus viêm gan B, cách thức di truyền của virus viêm gan C không được đưa trực tiếp vào vật liệu di truyền của tế bào gan. Nó được biết đến xơ gan do mọi nguyên nhân là một yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của ung thư gan. Vì vậy, nó đã được lập luận rằng virus viêm gan C, gây ra xơ gan , là một nguyên nhân gián tiếp của ung thư gan.

-Mặt khác, có một số bệnh viêm gan C bị nhiễm virus cá nhân có ung thư gan mà không có xơ gan. Vì vậy, nó đã được cho rằng protein lõi của virus viêm gan C là thủ phạm trong sự phát triển của ung thư gan.Các protein lõi (một phần của siêu vi viêm gan C) được cho là cản trở quá trình tự nhiên của tế bào chết hoặc can thiệp với các chức năng của một gen ức chế khối u bình thường. Kết quả của những hành động này là các tế bào gan đi vào cuộc sống và tái tạo mà không có những hạn chế bình thường gây ung thư gan.

Do Rượu :

-Xơ gan gây ra bởi tiêu thụ rượu mãn tính là một hiệp hội phổ biến nhất của ung thư gan ở các nước phát triển. Trong thực tế, khám nghiệm tử thi, có đến nửa của người nghiện rượu trước đây vốn bị nghi ngờ có ung thư sẽ có bằng chứng sớm của ung thư tiềm ẩn bên trong gan. Nhiều người trong số những người này cũng bị nhiễm virus viêm gan C mãn tính.Ví dụ thông thường là một cá nhân xơ gan do rượu đã không còn uống rượu trong 10 năm và sau đó phát triển ung thư gan. Nó là hơi khác thường đối với một người nghiện rượu tích cực uống để phát triển ung thư gan.Điều gì xảy ra là khi uống rượu và dừng lại, các tế bào gan cố gắng để chữa lành bằng cách tái sinh (tái tạo). Đó là trong quá trình tái tạo hoạt động này, ung thư sản xuất thay đổi di truyền (đột biến) có thể xảy ra, điều này giải thích sự xuất hiện của ung thư gan sau khi uống rượu đã được dừng lại.

-Quan trọng hơn, nếu một người nghiện rượu không ngừng uống rượu, họ không sống đủ lâu để phát triển ung thư. Nghiện rượu những người đang tích cực uống có nhiều khả năng chết vì biến chứng ung thư liên quan đến bệnh gan do rượu (ví dụ như suy gan,). Thật vậy, bệnh nhân xơ gan do rượu, những người chết vì ung thư gan là khoảng 10 năm so với bệnh nhân chết vì các nguyên nhân không ung thư. Cuối cùng, như đã nói ở trên, rượu làm tăng nguy cơ phát triển ung thư gan ở bệnh nhân viêm gan C lây nhiễm virus hoặc vi rút viêm gan B.

Aflatoxin B1 :

-Aflatoxin B1 là các hóa chất tạo ung thư gan mạnh nhất được biết đến. Nó là một sản phẩm gọi là Aspergillus flavus , được tìm thấy trong thực phẩm đã được lưu trữ trong một môi trường nóng và ẩm. Nấm mốc này được tìm thấy trong thực phẩm như gạo, lạc, đậu tương, ngô và lúa mì. Nó được cho là gây ra ung thư bằng cách thay đổi sản xuất (đột biến) ở gen p53. Những đột biến này hoạt động bằng cách can thiệp quan trọng của gen ức chế khối u (ức chế) chức năng.

Thuốc, thuốc men và hóa chất :

-Một số hóa chất có liên quan với các loại ung thư được tìm thấy trong gan.Ví dụ: thorotrast - một tác nhân tương phản trước đây được sử dụng cho các nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh, gây ra một bệnh ung thư của các mạch máu trong gan gọi là angiosarcoma gan. Ngoài ra, vinyl chloride - một hợp chất được sử dụng trong công nghiệp nhựa, có thể gây ra angiosarcomas gan xuất hiện nhiều năm sau khi tiếp xúc.

Hemochromatosis :

-Ung thư gan sẽ phát triển lên đến 30% bệnh nhân với di truyền hemochromatosis (một rối loạn trong đó có quá nhiều sắt được lưu trữ trong cơ thể, bao gồm trong gan). Bệnh nhân có nguy cơ cao nhất là những người bị xơ gan với hemochromatosis. Thật không may, khi xơ gan tạo ra thì hiệu quả loại bỏ các dư thừa sắt (điều trị cho hemochromatosis) sẽ không làm giảm nguy cơ phát triển ung thư gan.

Do Bệnh tiểu đường và béo phì :

-Trong thập kỷ qua, tỷ lệ mắc ung thư gan trên thế giới đã tăng đáng kể, song song với sự gia tăng bệnh béo phì. Mặc dù rất khó để tách ảnh hưởng của bệnh tiểu đường từ bệnh béo phì trên gan, cả hai điều kiện có thể gây ra tổn thương mãn tính và tích tụ mỡ trong gan .. Đây là một căn bệnh gọi là NASH. Bệnh gan nhiễm mỡ như thế này gây thiệt hại cho các tế bào gan cá nhân và có thể dẫn đến xơ gan ở một số người, do đó tăng nguy cơ ung thư gan.

Xơ gan :

-Hầu hết các loại bệnh xơ gan có tăng nguy cơ phát triển ung thư gan. Ngoài các điều kiện mô tả ở trên (viêm gan B, viêm gan C, rượu, và hemochromatosis), thiếu hụt alpha 1-trypsin , một tình trạng di truyền có thể gây ra bệnh khí thũng và xơ gan, có thể dẫn đến ung thư gan. Ung thư gan cũng liên quan chặt chẽ với tyrosinemia di truyền, bất thường ở trẻ em sinh hóa dẫn đến xơ gan sớm.

-Một số nguyên nhân gây xơ gan ít liên quan với ung thư gan hơn là các nguyên nhân khác. Ví dụ, ung thư gan hiếm khi được nhìn thấy với xơ gan ở bệnh Wilson (đồng trao đổi chất bất thường) hoặc xơ viêm đường mật mãn tính sẹo và thu hẹp của ống mật. Nó được sử dụng để được nghĩ rằng ung thư gan hiếm khi được tìm thấy trong xơ gan mật chính (PBC). Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng tần suất của bệnh ung thư gan trong PBC so với các hình thức khác của xơ gan.

TRIỆU CHỨNG :

-Không có triệu chứng cụ thể của ung thư gan, và trong thực tế, những dấu hiệu đầu tiên thường khó phát hiện và có thể bị nhầm lẫn với khác liên quan đến gan, xơ gan và chức năng gan. Đau bụng không phổ biến với ung thư gan và nếu có thường có nghĩa một khối u rất lớn hoặc sự tham gia của di căn gan. Ngoài ra, giảm cân không giải thích được hoặc sốt không giải thích được cảnh báo dấu hiệu của ung thư gan ở bệnh nhân xơ gan. Những triệu chứng này ít phổ biến hơn ở các cá nhân với ung thư gan bởi vì những bệnh nhân này thường được chẩn đoán ở giai đoạn trước đó. Tuy nhiên, bất cứ khi nào sức khỏe tổng thể của một bệnh nhân xơ gan bị suy giảm, mọi nỗ lực cần được thực hiện có thể chuẩn đoán ung thư gan.

-Ví dụ, sự xuất hiện đột ngột của báng bụng (dịch bụng và sưng), vàng da (màu vàng da), hoặc cơ lãng phí mà không gây bệnh (kết tủa) các yếu tố (ví dụ như tiêu thụ rượu,) cho thấy khả năng của bệnh ung thư gan. Hơn nữa, ung thư có thể xâm nhập và ngăn chặn các tĩnh mạch cửa (tĩnh mạch lớn mang máu đến gan từ ruột và lá lách). Khi điều này xảy ra, máu sẽ đi con đường của sức đề kháng kém, chẳng hạn như thông qua các tĩnh mạch thực quản. Điều này làm tăng áp lực trong các tĩnh mạch, mà kết quả trong (mở rộng) tĩnh mạch giãn nở được gọi là thực quản dãn tĩnh mạch. Bệnh nhân sau đó là nguy cơ xuất huyết từ những đứt gãy của dãn tĩnh mạch vào đường tiêu hóa. Hiếm khi, bản thân bệnh ung thư có thể bị vỡ và chảy máu vào trong khoang bụng, kết quả là cổ trướng đẫm máu.

-Khám thực thể, một, mở rộng, đôi khi đấu thầu, gan là phát hiện phổ biến nhất. Ung thư gan là rất mạch máu (có chứa nhiều mạch máu) khối u. Như vậy, tăng lượng thức ăn máu vào động mạch gan (động mạch gan) và gây ra hỗn loạn dòng chảy của máu trong động mạch. Những biến động kết quả trong một âm thanh khác biệt trong gan (gan tin đồn) có thể được lắng nghe với một ống nghe trong khoảng một phần tư đến một nửa bệnh nhân ung thư gan. Bất kỳ dấu hiệu của bệnh gan tiến triển (ví dụ, báng bụng, vàng da, teo cơ) có nghĩa là một tiên lượng xấu. Hiếm khi, một bệnh nhân bị ung thư gan có thể trở thành bất ngờ vàng da khi khối u ăn mòn vào ống mật. Vàng da xảy ra trong tình huống này bởi vì cả hai tróc da của khối u vào ống và chảy máu cục máu đông trong ống có thể chặn các ống dẫn.

-Trong ung thư gan tiến triển, khối u có thể lây lan tại địa phương để các mô lân cận hoặc thông qua các mạch máu, ở những nơi khác trong cơ thể (di căn xa). Tại địa phương, ung thư gan có thể xâm lấn vào tĩnh mạch chảy gan (tĩnh mạch gan). Các khối u sau đó có thể ngăn chặn những tĩnh mạch, dẫn đến tắc nghẽn của gan. Tắc nghẽn xảy ra bởi vì các tĩnh mạch bị chặn không thể tiêu hao máu của gan. (Thông thường, máu trong các tĩnh mạch gan để gan chảy qua tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh mạch lớn nhất chảy vào tim.) Ở những bệnh nhân châu Phi, khối u thường xuyên khối cava tĩnh mạch kém. Tắc nghẽn của các tĩnh mạch gan hoặc tĩnh mạch chủ dưới kết quả trong một lá gan bị sưng và hình thành lớn của cổ trướng. Trong một số bệnh nhân, như đã đề cập trước đó, khối u có thể xâm lấn vào tĩnh mạch cửa và dẫn đến vỡ dãn tĩnh mạch thực quản.

 *Các triệu chứng :

+ Đau bụng hoặc đau, đặc biệt là ở các góc phần tư phía trên bên phải

+ Mở rộng bụng

+ Dễ bị bầm tím hoặc chảy máu

+ Vàng da (một sự đổi màu vàng của da và mắt)

 *Các dấu hiệu và kiểm tra

+ Sinh thiết gan cho thấy ung thư biểu mô tế bào gan.

+ Có thể có một khối u được hiển thị trên CT scan bụng .

+ Một quét gan có thể cho thấy sự bất thường.

+ Men gan ( xét nghiệm chức năng gan ) tăng cao.

+ Chụp PET CT .



ĐIỀU BỆNH NHÂN MEN GAN CAO NÊN LÀM

Gan đảm nhận nhiều chức năng vô cùng quan trọng trong cơ thể người : tiêu hóa, chuyển hóa, giải độc và đông máu. Sỡ dĩ gan có thể đảm nhận nhiều vai trò như vậy là nhờ ở gan có một hệ enzym (men) đa dạng và phức tạp, mỗi loại enzyme (men) đặc hiệu cho 1 vai trò nào đó. Enzyme gan là một loại protein giúp thúc đẩy một phản ứng sinh hóa đặc hiệu nào đó. Tăng men gan là một dấu hiệu của sự rối loạn ở gan và cần được theo dõi điều trị. Có thể là việc dùng thuốc hay 1 bệnh nào đó cũng gây nên triệu chứng tăng men gan

Làm sạch gan

Có nghĩa là ăn uống để cân bằng lượng men gan và bảo vệ chức năng gan. Hãy giảm các loại thức ăn đóng hộp có chứa nhiều đường như nước ngọt, bánh mì trắng, bánh ngọt. Hạn chế lượng chất béo bão hòa từ các món chiên xào, dầu mỡ động vật … cũng giúp công việc của gan được “nhẹ nhàng” hơn.

Tỏi
                                                            
– chứa nhiều chất chống oxi hóa tên là Allicin giúp giảm lượng chất độc hại tích tụ trong gan

Tăng lượng chất xơ trong bữa ăn và đừng quên dùng Tỏi – chứa nhiều chất chống oxi hóa tên là Allicin giúp giảm lượng chất độc hại tích tụ trong gan. Những món ăn chứa nhiều vitamin B như trứng, bông cải, rau bina rất có lợi cho một lá gan khỏe. Nên uống nhiều nước để giúp dễ tống chất độc ra khỏi gan.

Tránh xa thức ăn “độc”

Gan được xem như là màng lọc chất độc cho cơ thể. Mỗi phút, lượng máu được lọc qua gan là 1.4 lít. Nếu trong máu chứa nhiều chất kháng sinh và hormone sẽ khiến gan phải làm việc “cực nhọc” hơn để lọc các độc tố đó ra khỏi máu. Để giảm tải cho gan, nên quan tâm kĩ đến nguồn gốc các loại thực phẩm mà bạn sử dụng. Các chất kháng sinh thường được thêm vào trong thức ăn chăn nuôi gà, heo, bò nên các loại thịt này , thậm chí cả sữa, cũng chứa hàm lượng kháng sinh rất cao. Sữa đậu nành là 1 giải pháp thay thế an toàn mà lại bổ dưỡng.

Hãy uống nước ép

Nước ép trái cây vừa giúp giữ dáng lại còn có tác dụng tăng cường sức khỏe cho gan vì tác động giải độc hỗ trợ cho chức năng gan. Nước ép chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất chống oxi hóa – làm giảm nguy cơ viêm nhiễm ở gan và tăng sức đề kháng cho gan. Nước ép táo là 1 ví dụ điển hình, chứa nhiều pectin nên giúp loại bỏ các kim loại nặng trong đường ruột và gan. Nước ép dưa leo lại tạo ra sự cân bằng pH nội sinh và giúp thanh lọc thân nhiệt.